Đường về !

Chúng tôi đến Nha Trang khi thành phố này đang tổ chức Festival Biển 2009 với rất nhiều sự kiện. Nhưng cũng đúng vào lúc này, những tin tức về dịch cúm H1N1 tại Việt Nam đang diễn biến rất đáng ngại, mà chủ yếu tại các tỉnh phía Nam. Ở Nha Trang, nghe chỗ nào cũng toàn giọng Sài Gòn hoặc lơ lớ của các bác Việt Kiều lâu ngày quên tiếng Việt. Chúng tôi không dám ở lại lâu, lại càng không dám đến những chỗ tụ tập đông người. Thế là chỉ sau một đêm ngủ lại Nha Trang, chúng tôi quyết định: Về!
Các cột cây số bên đường ghi từ Nha Trang đến Hà Nội khoảng 1.280 km, nhưng cha con nhẩn nha ghé vào thăm thú các nơi nên đi cũng mất đến 3 ngày và quãng đường cũng dài ra đáng kể, tăng thêm khoảng hơn 100 km nữa.
Ngày 1: Chúng tôi chạy tà tà theo QL 1 dọc bờ biển, ngắm nghía biển Đại Lãnh (Khánh Hòa), đèo Cả, gành Đá Đĩa (Phú Yên), TP Quy Nhơn (Bình Định), TP Quảng Ngãi v.v...Tối: Ngủ lại bãi biển Lăng Cô (Thừa Thiên - Huế).
Ngày 2: Sau khi tắm biển và ăn sáng ở bãi biển Lăng Cô, chúng tôi lên đường chạy tuốt đến Tĩnh Gia (Thanh Hóa) thì ngủ lại. "Âm mưu" ban đầu là đến bãi biển Hải Thanh (chúng tôi nhìn thấy biểu tượng bãi biển trên bản đồ) của huyện này đế sáng hôm sau tắm biển rồi mới về Hà Nội. Tuy nhiên, sau khi chạy mười mấy cây số từ trung tâm huyện đến được Hải Thanh mới biết nơi đây chỉ toàn cá với tôm và xe đông lạnh, còn muốn tìm hình bóng xe du lịch và khách sạn thì phải đến bãi biển thuộc xã Hải Hòa. Thế là lại lóc cóc chạy mười mấy km quay lại thị trấn Còng (Tĩnh Gia, Thanh Hóa) ngủ qua đêm trong một nhà khách tồi tàn.
Ngày 3: Đường mã hồi nhanh thật là nhanh. Không cần nhấn ga mà hình như chú Nissan Vip cứ tự động vít lên 100 - 110 km/giờ trên đường cao tốc Cầu Giẽ-Pháp Vân. Home - sweet home !

Tổng cộng trong 10 ngày, chiếc Nissan Vip đã đưa mấy cha con đi hơn 3.200 km xuyên qua 18 tỉnh và thành phố: Hà Nội-Hà Nam-Ninh Bình-Thanh Hóa-Nghệ An-Hà Tĩnh-Quảng Bình-Quảng Trị-Thừa Thiên Huế - Đà Nẵng- Quảng Nam- Quảng Ngãi-Bình Định-Gia Lai-Đắk Lắk-Lâm Đồng-Khánh Hòa-Phú Yên.

Chú Nissan Vip chạy trơn tru gần như từ đầu đến cuối, nghĩa là cứ đổ xăng mà đi. Máy lạnh chạy suốt, kể cả khi leo đèo. Cộng sổ lại thì không tính ăn ở cho người, chi phí riêng cho chú Nissan Vip hết 5.580.000 đồng, bao gồm: 5.220.000 đồng tiền xăng (400 lít) + 550.000 đồng tiền thay một bộ bugi và thổi bụi lọc gió + 30.000 đồng tiền một lần phải vá lốp. Đổi lại: chúng tôi được một chuyến đi hoàn toàn chủ động và hết sức thoải mái.

Cảm ơn Nissan Vip !

Đà Lạt - Nha Trang: Tuyến đường thiên thần !

(Bấm vào ảnh để xem hình lớn hơn)
Từ Đà Lạt, chúng tôi xuống Nha Trang theo một con đường mới mở chưa lâu với lộ trình rút ngắn được tới 90 km so với tuyến Đà Lạt-Phan Rang-Nha Trang. Không những ngắn hơn, phong cảnh trên tuyến đường mới này lại rất đẹp, gây ấn tượng rất mạnh cho khách du lịch.

Tuyến đường này không phải là quốc lộ nên thậm chí còn chưa được thể hiện trên một số bản đồ. Đây nguyên là đường tỉnh số 723 của Lâm Đồng và đường tỉnh số 2 của Khánh Hóa, được hai tỉnh phối hợp cho nối với nhau và nâng cấp thành đường du lịch:

Đường tỉnh 723 bên phía Lâm Đồng
(Bấm vào ảnh để xem hình lớn hơn)
Đường mới được nâng cấp từ nền tỉnh lộ cũ...


Nhiều đoạn vẫn còn nguyên thủy: nhỏ hẹp và xấu đến mức có lúc chúng tôi tưởng đã bị lạc đường:


Nhưng về cơ bản thì tuyến đường có phong cảnh rất đẹp. Bên phía Đà Lạt là hàng chục km rừng thông nối tiếp rừng thông:


(Bấm vào ảnh để xem hình lớn hơn)
Khi gần tới địa phận Khánh Hòa, đường bắt đầu chạy xuyên qua Vườn quốc gia Bidoup-Núi Bà. Hai bên là rừng đại ngàn nguyên sinh đẹp mê hồn:


(Bấm vào ảnh để xem hình lớn hơn)
Thậm chí có cả những tấm biển chỉ độ cao: 1.500 m, rồi 1.000 m, 500 m...


Phía dưới là trùng trùng điệp điệp núi non:

(Bấm vào ảnh để xem hình lớn hơn)
Và cuối cùng, sau 140 km mà phần lớn là phong cảnh tuyệt đẹp, chúng tôi đã đến Nha Trang:


Nissan Vip lại một lần nữa "đứng trước biển" trong khi ông chủ nhỏ vẫy vùng trên sóng:

(Bấm vào ảnh để xem hình lớn hơn)

Ngày 10/06/2009: Nissan Vip đang ở Đà Lạt !

Mấy ngày nay đi trên đường, laptop dính virus, ra quán net thì mạng chập chờn nên tôi chưa cập nhật được ảnh của chuyến đi. Tuy nhiên, hiện tại cha con tôi và chiếc Nissan Vip đang vi vu trên xứ Lang Biang !

Tạm thời tóm tắt chuyến đi thế này:

Ngày 1: Rời Hà Nội để "Nam tiến" theo đường QL 1. Dừng ăn trưa ở Tĩnh Gia (Thanh Hóa). Chiều: Thăm quê Bác Hồ ở Nam Đàn (cả quê nội và quê ngoại). Sau khi qua cầu Bến Thủy, chúng tôi rẽ tay phải tại thị xã Hồng Lĩnh, đi theo QL8 về phía Tây. Tối: ngủ tại thị trấn Phố Châu (Hương Sơn, Hà Tĩnh).

Ngày 2: Chạy theo đường Hồ Chí Minh từ Phố Châu (Hà Tĩnh) đến Cam Lộ (Quảng Trị) thì rẽ trái theo QL9 quay lại QL1 tại Đông Hà (Quảng Trị). Chạy qua Huế - Lăng Cô - đèo Hải Vân - Đà Nẵng để về nghỉ qua đêm tại Hội An (Quảng Nam). Tối: tham gia Lễ hội Hành trình di sản 2009 tại phố cổ Hội An.

Ngày 3: Từ Hội An chạy ra QL1 tại Vĩnh Điện (Quảng Nam), rẽ trái để tiếp tục hành trình "Nam tiến". Trưa: Đến bãi biển Sa Huỳnh (Quảng Ngãi), cho trẻ con tắm biển đã đời. Chiều: Tiếp tục lên đường. Rời QL1 tại ngã ba Phú Tài (Bình Định) để theo QL19 lên Tây Nguyên. Chạy một mạch đến 9 giờ đêm thì tới Buôn Ma Thuột (Đắk Lắk).

Ngày 4: Ở lại Buôn Ma Thuột - đi thăm Buôn Đôn. Cưỡi voi lội sông Sê Rê Pôk !

Ngày 5: Theo QL 27 chạy từ Buôn Ma Thuột sang Đà Lạt. Buổi chiều: Tham quan Đà Lạt: Dinh Bảo Đại, thác Cam Ly (phù...ô nhiễm khủng khiếp, đừng nên đến đó !) và trượt máng thăm thác Dambri (cái này rất tuyệt !).

Ngày 6: Sáng đi thăm núi Lang Biang. Kế hoạch ban đầu là chiều hôm nay chạy về Nha Trang, nhưng xem dự báo thời tiết thấy nói từ Nghệ An đến Bình Thuận đang chịu một đợt nóng khủng khiếp nên quyết định ở lại hưởng thêm một đêm mát mẻ ở Đà Lạt đã.

Ở đây, chúng tôi đang phải mặc áo khoác và đắp chăn, trong khi trên TV nói Hà Nội nóng tới 45 độ. Thật sung sướng :-)

Nói về chiếc Nissan Vip: Tính đến lúc này, chúng tôi đã vượt hơn 1.700 km qua rất nhiều đèo dốc như Hải Vân, An Khê, Mang Yang v.v...nhưng chiếc xe vẫn hoạt động rất tốt. Ngồi trên xe không hề bị mệt mỏi do ít tiềng ồn và chạy rất êm. Máy lạnh vẫn bảo đảm mát mẻ dù chạy qua miền Trung nắng như đổ lửa. Tôi đặc biệt hài lòng với bộ giảm xóc của xe. Xe lướt êm kể cả trên những đoạn đường xấu nên chúng tôi có thể đi khá nhanh, thậm chí trong ngày thứ 3 chúng tôi đã đi hơn 600 km từ Hội An đến tận Buôn Ma Thuột ! Tuy nhiên, đêm hôm đó tôi cũng có cảm nhận xe hơi "ăn" xăng và tiếng máy không "ngọt". Sáng hôm sau, tôi kiểm tra thấy đầu các bugi có muội đen, nhìn không "đẹp". Tôi mua một bộ 6 chiếc bugi mới thay vào, thêm cả công thợ vệ sinh lọc gió hết 550.000 đồng. Từ Buôn Ma Thuột sang Đà Lạt máy lại êm ru và hết cảm giác bị "ăn" xăng.

Tính đến lúc này, tôi đã đổ 260 lít xăng, đi được khoảng 1.700 km và kim đồng hồ đang báo còn 1/2 bình xăng nữa, chắc xuống đến Nha Trang (khoảng 150 km nữa) mới lại phải mua xăng.

Ngày mai chúng tôi sẽ "hạ cánh" xuống đồng bằng theo con đường mới nối Đà Lạt với Nha Trang (nghe nói là phong cảnh rất đẹp).

Không bán Nissan Vip nữa !

Tôi đã đăng bán chú Nissan Vip này, nhưng khi có nhiều người đến mua, thấy người ta có vẻ ưng chiếc xe của mình thì lại...tiếc. Nhất là khi có bác trông rõ là thích lắm rồi nhưng cứ lên giọng chê bai mào là xe phân khối lớn, tốn xăng, nào là xe xưa rồi. Thế là tôi không bán nữa, kể cả có bác đã trả giá khá sát với mong muốn.

Lại rỡ bỏ hết các mẩu rao vặt bán xe :-).

Tháng 6/2009, tôi sẽ dùng chiếc xe này đưa cậu con trai đi Nha Trang - phần thưởng học sinh giỏi năm học 2008-2009.

Tôi sẽ cập nhật hình ảnh chiếc xe mỗi ngày trên con đường đi dọc đất nước để chia xẻ cùng mọi người.

Hãy đón xem nhé !

Bán xe Nissan Cedric Vip V6 3.0



Mô tả ngắn gọn thế này:
Xe sản xuất năm 1993 tại Nhật Bản, nhập nguyên chiếc vào Việt Nam. Đã bảo dưỡng kỹ càng, thay phụ tùng chính hiệu Nissan, từ lúc bảo dưỡng tổng thể đến nay mới đi được gần 5.000 km. Xe đẹp, nguyên bản, đi xa tốt.

Trang thiết bị:
  • Ghế da xịn
  • Nội thất ốp vân gỗ
  • Tay lái trợ lực, có gật gù
  • Gương, kính chỉnh điện toàn bộ
  • Kính bên lái điều khiển "một chạm" (one touch)
  • Khóa tổng, điều khiển từ xa
  • 4 ghế điều chỉnh bằng điện
  • 5 quả lazăng đúc
  • 4 quả lốp Michelin mới thay
  • 2 giàn điều hòa
  • Hộc lạnh (ướp lạmh được 4 lon nước)
  • Đầu đĩa CD
  • Ăng ten điện 2 cấp
  • Loa bass theo xe
  • Đèn phanh thứ 3
  • Dán kính chống nóng
  • Chống ồn toàn bộ
  • Cảm biến lùi
  • Đèn sương mù theo xe
  • Động cơ xăng V6 3.0, tiêu thụ 12,8 lít/100 km
  • Số sàn
Để có thông tin kỹ hơn về chiếc xe tôi đang rao bán, các bác có thể bấm trực tiếp vào các bài tôi đã post ở cột "Các bài viết" phía bên tay phải màn hình. Hoặc bấm vào các mục dưới đây:
Về giấy tờ: Xe không chính chủ các bác nhé.

Về giá cả: Tôi mong muốn bán 210 triệu đồng, có thương lượng chút ít thôi.

Bác nào có Nissan Pathfinder, Nissan Patrol hoặc Nissan Cefiro sản xuất từ 1993 đến 2000, giá dưới 250 triệu thì tôi sẵn sàng trao đổi. Phương thức là hai bên cùng nhau ấn định giá từng chiếc để bù chênh lệch.

Mời các bác xem kỹ càng hình ảnh và các bài viết trước khi quyết định. Nếu thực sự quan tâm thì liên hệ với tôi nhé.

Số điện thoại của tôi: xxxxxxxxxxxxxx

Nissan Nissmo 350Z

Đang lúi húi với chú Cedric Vip của mình thì một "bóng hồng" vụt qua trước ngõ. Tôi vội vàng xách máy ảnh chạy ra và "chộp" được một "chàng" Nissan hàng khủng: NISSAN NISSMO 350Z.

Không còn lời nào để nói nữa, ặc ặc:


Nissmo 350Z đang tiến vào ngõ...


...đỗ trong sân...



...và lùi ra.

Nhìn "thèm" quá. Lại lục trên mạng xem thêm hình ảnh của "chú" này:







Các "chú" này có phiên bản số tự động...



...và cả bản số tay nữa nè.

Và đây là những thông tin về dòng xe "Z":

For the first time ever in the Nissan Z’s 37-year history, a high-performance NISMO 350Z is part of the extensive Z lineup. The new 2007 Nissan NISMO 350Z features an extensively developed list of unique equipment – including a special body package and improved handling equipment. This new model, the fifth in the 2007 350Z Coupe lineup, is available with a 6-speed manual transmission only.

The most striking visual feature of this special vehicle is the NISMO aerodynamics package, which strongly resembles the Super GT championship winning Z?s. Featuring an aggressive front fascia with chin spoiler, side skirts, an extended rear fascia with underbody diffuser and a rear wing, the NISMO 350Z produces additional aerodynamic downforce to provide enhanced cornering and handling performance.

Special consideration is given during assembly of the NISMO 350Z – structural rigidity is enhanced by the use of additional body welds to the already rigid 350Z body and additional supports have been added front and rear. The NISMO 350Z also utilizes special body dampers mounted in the front radiator core support and the rear cargo area, which assist in controlling body vibrations.

Additional performance features include a specially tuned independent multi-link suspension, Brembo brakes with four-piston front and two-piston rear calipers (with 12.8-inch front and 12.7-inch rear rotors) and special NISMO-branded gunmetal gray RAYS super lightweight forged-alloy wheels (18×9-inch front and 19×10-inch rear with 245/40WR18 front, 265/35WR19 rear Bridgestone Potenza RE050A tires). A special NISMO-branded tuned exhaust adds an even more authoritative tone to the Z?’s 306-horsepower V6 engine.

The 2007 NISMO 350Z is scheduled to go on sale in July 2007.

Highlights of the 2007 Nissan NISMO 350Z include:

Body:
• NISMO aerodynamics package, including front fascia with chin spoiler, side skirts, rear fascia with diffuser and rear wing
• Additional body structure measures, including additional body welds and front and rear reinforcements
• Special body dampers mounted in the front radiator core support and rear cargo area
• High Intensity Discharge (HID) bi-xenon (high and low beam) headlights and LED brake lights
• Long wheelbase (104.3 inches), short overhangs and wide stance; raised rear deck for enhanced aerodynamics
• TBD coefficient of drag
• Strong, spine-like beltline anchored with large, distinctive taillights
• Aluminum hood, distinctive vertical door handles, heated outside mirrors
• Four available exterior colors – Redline Red, Magnetic Black, Silver Alloy, Pikes Peak White

Engine and Driveline
• Next-generation 3.5-liter, 24-valve DOHC V6 (VQ35HR), 306 horsepower @ 6800 RPM, 268 lb-ft of torque @ 4800 RPM
• Ram air dual intake, equal length exhaust manifold and dual exhaust system with laser-welded rear mufflers
• High compression ratio (10.6:1), 7500 rpm redline, eCVTCS (electromagnetic variable exhaust cam timing), twin knock sensors, improved cooling and stiffer engine block structure, small pitch silent cam chain
• NISMO-branded tuned dual exhaust with chrome exhaust tips
• 6-speed close-ratio manual transmission
• Front engine/rear-wheel drive
• Carbon Fiber Reinforced Plastic (CFRP) driveshaft

Suspension, Steering and Braking
• NISMO-tuned 4-wheel independent multi-link suspension with use of lightweight aluminum components
• Brembo power-assisted vented 4-wheel disc brakes with four-piston front and two-piston rear calipers (with 12.8-inch front and 12.7-inch rear rotors), 4-wheel Anti-lock Braking System (ABS) with Brake Assist (BA) and Electronic Brake force Distribution (EBD)
• NISMO-branded gunmetal gray RAYS super lightweight forged-alloy wheels, 18×9-inch front and 19×10-inch rear
• Large diameter front and rear stabilizer bars
• Vehicle speed-sensitive power rack-and-pinion steering
• Traction Control System (TCS)
• Viscous Limited-Slip Differential (VLSD)
• Tire Pressure Monitor System (TPMS)

Interior Features
• Unique black cloth seats with red inserts
• Red stitching throughout the interior
• Special NISMO white-faced tachometer
• Serialized NISMO-etched aluminum plaque mounted on the center console
• Driver-oriented two-passenger interior environment with a combination of classic and cutting-edge sports car interior design
• 3-bay gauge pods – similar to the original 240Z design
• Specially shaped driver’s seat (different from passenger design) to hold the body firmly
• 8-way manual driver’s seat/4-way manual passenger’s seat
• Standard automatic temperature control
• Lockable rear luggage box behind passenger seat
• Center console with aluminum trim
• Power windows with auto one-touch up and down, power door locks
• Aluminum pedals
• HomeLink® Universal Transceiver

Safety and Security
• Nissan Advanced Air Bag System
• 3-point ALR/ELR seatbelts (driver’s seatbelt ELR only)
• Front seatbelts with pretensioners and load limiters
• Zone Body construction with front and rear crushable zones
• Energy-absorbing steering column
• Active Head Restraints
• Standard Vehicle Security System and Immobilizer

Models and Manufacturing
• One well-equipped NISMO 350Z model
• Assembled in Tochigi, Japan

Text and photos courtesy of Nissan



Fan của xe Nissan

Đến bây giờ thì tôi đã tự nhận thấy mình đã trở thành fan của hãng Nissan từ lúc nào không biết.

Bắt đầu là việc tôi tình cờ may mắn mua được chiếc xe Nissan BlueBird SSS đời 1993 theo diện thanh lý. Chuyến đi xuyên Việt với chiếc xe này đã làm tôi rất có cảm tình với nhãn hiệu Nissan. Rồi đến việc rất cần tiền phải bán chiếc SSS, sau đó khi có tiền lại "nâng đời" lên Nissan Cedric Vip V6 3.0 đời 1993.

Càng sử dụng dòng xe này, tôi càng khám phá thêm được những nét khác biệt.

Chiếc Nissan đầu tiên của tôi: BlueBird SSS 2.0 đời 1993.


Và chiếc Nissan thứ 2: Cedric Vip V6 3.0 sản xuất năm 1993.

Cảm nhận chung, lớn nhất đối với xe Nissan là sự tin cậy, bền bỉ và thiết kế rất tiện nghi. Xe Nissan có thiết kế không phô trương, nhưng lại không hề lỗi mốt. Những chiếc Nissan sản xuất từ những năm 90 của thế kỷ trước đến nay vẫn cứ đẹp, vẫn có những tính năng vượt trội so với một số dòng xe khác sản xuất hàng chục năm sau đó.

Tiết kiệm nhiên liệu cũng là ưu điểm vượt trội của các dòng xe Nissan.
Một số dữ liệu về tiêu thụ nhiên liệu của xe Nissan:
Ngoài ra, trên mạng Internet cũng có thông tin về mức tiêu thụ nhiên liệu của một số dòng xe khác để so sánh:
Về thiết kế, ý kiến cá nhân tôi cho rằng Nissan Cefiro đáng được coi là một trong những chiếc xe có hình thức đẹp nhất trong dòng sedan.

Nissan Cefiro đời 1992

Còn Nissan Murano rõ ràng là có dáng vẻ đẹp đẽ nhất, thanh lịch nhất trong tất cả các xe SUV hoặc Cross-Over:

Nissan Murano đời 2007

Cứ lúc nào rảnh rỗi là tôi lại "chúi" vào chiếc Nissan Cedric Vip V6 3.0 của mình. Lau chùi sạch sẽ (chiếc xe của tôi lúc nào cũng bóng loáng, sạch tinh tươm từ trong ra ngoài), kiểm tra có con ốc nào lỏng là vặn xiết lại ngay. Làm mãi cũng hết việc, đôi lúc "lẻn" ra xe chỉ để ngắm nghía hoặc nổ máy nghe thử, rồi về.

Dù vẫn rất mê mẩn chiếc Nissan Cedric Vip V6 3.0 của mình, tôi đã bắt đầu "kết" những "cô nàng" và "anh chàng" Nissan khác như Cefiro, Maxima, Tiida, Teana, Terrano, Pathfinder, Patrol, X-Trail...

Tôi bắt đầu để ý thu thập thông tin về xe Nissan và ngắm nghía những chiếc xe nhãn hiệu này đang chạy trên đường phố Hà Nội.

Nissan Tiida đời 2009


Nissan Pathfinder đời 2006

Chưa có điều kiện để với tới đến những "cô nàng Nissan yêu kiều tuổi teen" đời mới như BlueBird Sylphy, Teana hay Murano, tôi dự định sẽ có những trải nghiệm mới với những chiếc xe mang nhãn hiệu Nissan khác sản xuất từ những năm 90 của thế kỷ trước như Cefiro, Maxima, Terrano, Patrol hay Pathfinder.

Thông tin tổng hợp về dòng Nissan Cefiro (tiếng Anh)

From: Wikipedia, the free encyclopedia

Nguồn: Wikipedia
1997 Nissan Cefiro
Manufacturer Nissan Motors
Also called Infiniti I30
Nissan Maxima
Production 1988–2003
Predecessor Nissan Auster U12 series
Class Mid-size
Body style(s) 4-door sedan

The Nissan Cefiro was an intermediate-size automobile range sold in Japan and other countries. It was introduced initially as a 4-door sedan, however a wagon was later produced. A large proportion were equipped with automatic transmissions.

Originally marketed towards the Japanese salaryman, Cefiro sold much better outside Japan, becoming extremely popular among middle class in countries such as Taiwan thanks to its high performance and comparatively low price. The top model used the same engine as found in the R32 Nissan Skyline, a 2 litre turbo charged 6 cylinder engine capable of just over 200 hp (150 kW). Other variants came with other versions of the Nissan RB engine. Brand new, the Cefiro was slightly more expensive than the equivalent Nissan Skyline.

The model years of second and third generation Cefiros in Japan differ from those in the United States. The Cefiro was also a grey import that was popular in the United Kingdom, Ireland, New Zealand and Russia. With each incarnation, the Cefiro was marketed more toward the executive segment, losing some of its sporty zeal.

A31(1988-1994)

Unmodified A31 Cefiro with factory wheels

Released in September 1988 to the Japanese market, it ceased production in May 1994. The A31 series included many hi-tech features, such as HICAS 4-wheel steering, sonar-controlled electronic damping, automatic headlights, and an automatic electric rear view mirror, many of which were seen later on the R32 Nissan Skyline, released one year later in 1989.

The A31 Cefiro was similar to the Nissan Laurel. The Cefiro is something like a luxury Nissan Skyline although these two were produced at the same time as the Cefiro. Mechanically, it was closest to the Nissan Skyline and Nissan Laurel, as they all had the same floorpan; but it shares its MacPherson strut front suspension with the S13 Silvia with the exception of the 4WD version which shares the same front and rear suspension as the GT-R and GTS4 Skyline.

The A31 Cefiro featured several versions of the RB-series straight-6 engines including the intercooled turbo RB20DET, although it was slightly detuned in the Cefiro. It also was not fitted with a re-circulating blowoff valve like the RB20DET powered Nissan Skyline.

Dashboard of a 1992 Cefiro

It was also, together with the Nissan Skyline, one of the first Japanese cars to have a 5-speed automatic transmission in the 2.5 litre and the very last of the 2 litre models. All 2 litre turbo versions with automatic transmissions used a 4-speed transmission.

Unlike many new car designs at the time, the A31 Cefiro was rear wheel drive, with all-wheel drive models being available as well. Unlike the future versions of the Nissan Laurels and Nissan Skylines, the Cefiro would become a front wheel drive in all models following the A31 Cefiro.

At the beginning of its production it was mostly overlooked as just an ordinary family sedan compared to the Nissan Skyline but in later times it has become very popular in the drifting scene. Spurred by the relatively cheap price of the car compared to other drifting vehicles in Japan, some enthusiasts bought the Cefiro for use in drifting. As a result this car has gained cult status in Japan, New Zealand, Thailand, Malaysia, Philippines and Australia as a drift car due to the interchangeability of parts with other performance models and highly tunable nature of the chassis design. It is also a relatively cheap car outside Japan as it is exported second hand.

This chassis was also the basis for the S13 chassis in the Nissan Silvia.

Specifications

General specifications

Body type: Sedan
Drive: RWD Displacement: 1998cc N/A and turbo, 2498cc N/A

Engine Specs

Engine model: RB20E, RB20DE, RB25DE, RB20DET
Max.power: 205 PS (151 kW) / 6400 rpm RB20DET
Max.power: 190 PS (138 kW) / 6400 rpm RB25DE
Max.power: 155 PS (114 kW) / 6400 rpm RB20DE
Max.power: 125 PS (91.94 kW) / 5600 rpm RB20E
Turbo Information: Ceramic
Fuel system: NISSAN EGI (ECCS) (electronic gasoline injection) electrically controlled gasoline injection
Turbocharger: Intercooled turbo
Fuel type: Unleaded premium gasoline

Exterior specifications

Exterior dimensions (LxWxH): 4690 x 1695 x 1375 mm
Interior dimensions (LxWxH): 1910 x 1425 x 1140 mm
Wheel base: 2670 mm
Ground clearance: 150 mm
Curb vehicle weight: 1350 kg (auto turbo) 1330 kg (manual turbo) 1260 kg (manual RB20E) 1280 kg (auto RB20E) 1300 kg (RB20DE manual) 1320 kg (RB20DE auto), 1400kg (auto turbo 4wd)
Seating capacity: 5
Doors number: 4
Min. turning radius: 5 m
Fuel tank capacity: 65

Suspension specifications

Power steering: Yes
Suspension system: front Independent suspension strut type
Suspension system: rear Independent suspension multiple link type

Model Engine Frame Year
Townride RB20E E-HA31GFE 1988
Townride RB20E E-HCA31GFE 1988
Townride RB20E E-HA31GAEP 1988
Touring RB20DE E-RA31GFE 1988
Sport touring RB20DE E-RCA31GFE 1988
MF Comfort touring RB20DE E-RA31GAEP 1988
Cruising RB20DET E-RA31GFS 1988
Sport cruising RB20DET E-RCA31GFS 1988
Townride N RB20E E-A31 1990
ATTESA cruising RB20DET E-NA31 1990 (4WD)
Townride SV RB20E E-A31 1991
Touring SV RB20DE E-A31 1991
VL RB20E E-LA31 1992
SE RB20E E-LA31 1992
VE RB20DE E-LA31 1992
25SSE RB25DE E-EA31 1992
SE-T RB20DET E-LA31 1992
25SSE M selection RB25DE E-EA31 1992
SE-4 RB20DET E-LNA31 1992 (4WD)

There are also many "sub models" which are the same as the above listed but feature HICAS 4 wheel steering as well. Nissan took the unusual step of making a left hand drive version of the Cefiro. Unlike all the Japanese versions it was fitted with a carburetted RB24 which was a single cam 6 cylinder 2.4L RB series motor.

Later models were given a softer look with revised light and bumper/grill design as well as "interior softening". These are referred to as the "facelift" shape and appear a little more refined in appearance.

Modifications

The most common engine modification is the RB25DET engine swap, which gives the car higher torque than the RB20DET engine, suited better for drifting. Others have successfully swapped an RB26DETT engine (as used in the Skyline GT-R R32-R34) with some minor oil sump modifications, along with an RB25DET gearbox. Some tuners prefer to use the lighter and more compact SR20DET using the RB25DET gearbox. Also many of the Silvia (S13), Laurel (C33) and Skyline (R32) parts are interchangeable, which gives flexibility in choosing parts.

A32(1995-1998)

1995 Nissan Cefiro S Touring

With the debut of the A32, Nissan changed the market orientation of the Cefiro from a premium sports saloon (A31) to an executive saloon with the advent of the A32 series. Generally the A32 was only badged as the Cefiro in Japan for the domestic market, A32's that were exported new from Japan usually wore the Maxima badge.

This particular series was softened considerably, lacking the sporting edge of the A31, losing the inline six and rear wheel drive for front wheel drive and a V6. It was equipped with the award-winning VQ series V6 engines. The A32 is the same chassis that forms the basis to the Infiniti I30 (which is near identical to the A32 Cefiro Brougham VIP model), as well as being rebadged as the Nissan Maxima QX for some other markets including the European, with three versions of the VQ, the VQ20/25/30DE, see Nissan VQ engine.

However in the U.S., the Maxima GXE and SE were closer to the Cefiro Excimo and S-Touring editions than were their Infiniti I30 counterparts.

A33(1999-2003)

A third generation A33 Nissan Cefiro (Excimo 2.0G).
An Infiniti I. This was a rebadged Nissan Cefiro, remaining in production from 1996-2004.

Sharing the A33 platform with Maxima and Infiniti I-series, the last true Cefiro was bigger. Like the A32, the newer A33 was designed more towards executive while retaining some of its sporty zeal. Available engines were VQ20/25/30DE-K/VQ35DE and some Neo and direct injection engines were available as well. Trim levels are 2.0 and 2.5 Excimo, 2.0 and 2.5 Excimo G, 2.0 and 2.5 S Touring, and 3.0 Brougham VIP. 5 speed manual transmission is only for 2.0 Excimo and 2.0 S Touring.

The limited edition L Selection and modified Autech version were also offered in Japan.

In Australia, the A33 was called Nissan Maxima and sold from 1999 to 2002. Trim levels are S, ST, and Ti. All models were powered by 3.0 liter engine.

The A33 is still in production for the Malaysian market, as the 3.0 Brougham VIP and Excimo 2.0G.

J31(2003-2008)

2006 Nissan Teana

The Cefiro disappeared in 2003, but the name continues to be used in some export markets, using the Nissan Teana J31 as a new replacement model.

The J31 Teana was sold under the name of Teana in Japan, Thailand, Philippines, Taiwan & China. The same car is sold under the name of Cefiro in Hong Kong, Singapore, Brunei, Latin America & Caribbean and Maxima in Australia & New Zealand.

Một số cảnh ấn tượng dọc hành trình về Điện Biên

(Bấm vào ảnh để xem hình lớn hơn)

Những con đường đèo dài hun hút, độ dốc cao đến chóng mặt:



(Bấm vào ảnh để xem hình lớn hơn)

Hoàng hôn trên đèo Pha Đin:



(Bấm vào ảnh để xem hình lớn hơn)

Và một số "ảnh chộp":

Một chú ỉn đủng đỉnh qua đường...

Một cậu bé học trò "đổ đèo" trên xe đạp với 2 chân đặt trên tay lái.